Giới thiệu

ĐỘC TÍNH CỦA CÂY HOÀN NGỌC?



Xu hướng sử dụng dược liệu để điều trị bệnh đang là tất yếu của xã hội, bởi càng ngày, con người nghiên cứu ra nhiều tác dụng “kỳ diệu” của thảo dược trong điều trị bệnh. Sử dụng dược liệu có ưu điểm so với tây y là hạn chế tối đa tác dụng phụ và độc tính cho người dùng. Tuy nhiên, vẫn cần có kiến thức cụ thể của từng loại dược liệu.

Với một số dược liệu có độc tính cao như: Trúc Đào Nerium oleander, một loại cây có khả năng điều trị một số chứng về tim, tuy nhiên,  toàn bộ các bộ phận của cây trúc đào đều chứa nhiều chất độc nên việc điều trị phải theo đơn và sự chỉ định của bác sĩ chuyên khoa.

Với những cây có hoạt tính rỏ ràng và được nghiên cứu bài bản, nhà khoa học không quên tìm hiểu về độc tính cấp hoặc  độc tính bán trường diễn đối với người sử dụng. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước về cây Hoàn Ngọc cho thấy, ngoài nội dung chứng minh khả năng điều trị bệnh thì việc đầu tư cho nội dung nghiên cứu độc tính là không thể thiếu và có thể nói là khá chi tiết. Trước khi đi đến kết luận cuối cùng là hoàn toàn an toàn, không gây độc, không gây tác dụng phụ, không kị thai sản, Nhà khoa học đã nghiên cứu độc tính cấp, tác dụng phụ, độc tính bán trường diễn của các dạng dịch chiết của cây Hoàn Ngọc. Mỗi dạng dịch chiết đều phải trải qua hai nội dung nghiên cứu độc tính. Khi kết hợp với dược liệu khác, tá dược khác để điều chế thành viên nang, hay trà túi lọc. Sản phẩm cũng phải qua nghiên cứu kĩ lưỡng về độc tính để xác định xem có thành phần tương kị với nhau không.

 Bảng kết quả so sánh  trọng lượng của chuột giữa nhóm thử và nhóm chứng (thử nghiệm độc tính cấp viên nang TANU Gold 500mg chứa chiết xuất từ cây Hoàn Ngọc, báo cáo kết quả dự án “Hoàn thiện quy trình công nghệ tạo 02 chế phẩm hỗ trợ điề trị ung thư từ cây Hoàn Ngọc” )

Nhóm

 (n = 10)

Kết quả trọng lượng (g)

P

Trước TN (m0)

Sau TN (m1)

Chứng (C)

18,71 ± 0,29

26,74 ± 0,67

Ptrước-sau< 0,01

% so với trước thử nghiệm

 

42,9%

Thử 1

18,52 ± 0,31

26,69 ± 0,81

Ptrước-sau < 0,01

Ptrước (T1-C)=0,323

Psau (T1-C)=0,915

% so với trước thử nghiệm

 

44,1%

Thử 2

18,71 ± 0,26

26,85 ± 0,70

Ptrước-sau< 0,01

Ptrước (T2-C)=0,056

Psau (T2-C)=0,063

% so với trước thử nghiệm

 

45,0%

Thử 3

18,46 ± 0,24

26,37 ± 0,61

Ptrước-sau < 0,01

Ptrước (T3-C)=0,076

Psau (T3-C)=0,094

% so với trước thử nghiệm

 

42,3%

 

 

Thỏ nhóm thử với mức liều cao gấp 3 lần liều lâm sàng

Gan

Thận

Vùng khoảng cửa không thấy tổn thương. HE x 400.

Các cầu thận và ống thận có

hình thái bình thường. HE x 400.

Vùng tĩnh mạch trung tâm tiểu thùy không thấy tổn thương. HE x 400.

Các ống thận có hình thái bình thường, mô kẽ không xâm nhập viêm. HE x 400.

`Description:

Các tế bào gan không thấy tổn thương.

PAS x 400.

 

Mao mạch cầu thận và màng đáy ống thận không dày,tế bào ống thận không lắng đọng glycogen. PAS x 400.

Thỏ nhóm chứng

Gan

Thận

Vùng khoảng cửa không thấy

tổn thương. HE x 400.

 

Các cầu thận và ống thận có

hình thái bình thường. HE x 400.

 

Vùng tĩnh mạch trung tâm tiểu thùy không thấy tổn thương. HE x 400.

 

Vùng khoảng kẽ không xơ hóa,

không xâm nhập viêm. HE x 400.

 

Các tế bào gan không lắng

đọng glycogen. PAS x 400.

Mao mạch cầu thận và màng đáy ống thận không dày, tế bào ống thận không lắng đọng glycogen. PAS x 400.

 

Hiện nay, trên thị trường xuất hiện nhiều sản phẩm thực phẩm chức năng có nguốn gốc từ thảo dược, tuy nhiên không phải loại nào cũng hoàn toàn an toàn như quảng cáo của doanh nghiệp. Với những dạng cây chứa lượng độc tính vừa phải, nhưng có khả năng tích lũy trong cơ thể, gây độc trong tương lai gần, thì hết sức nguy hiểm. Người dùng cần lưu ý trước khi mua bởi những sản phẩm chăm sóc sức khỏe, dùng cho đối tượng chức năng gan, thận suy yếu là không thể tùy thích.